Tuesday, February 20, 2007

Bí quyết nằm trong nước sốt … hay đoạn phim ngắn này

Juliette And The Licks in Studio

Add to My Profile | More Videos

Người ta thường hay hỏi tôi: anh dùng loại microphone gì khi thâu tiếng trống, tiếng tây ban cầm, giọng hát, và những nhạc cụ khác? Câu trả lời của tôi thường là, “Tôi không biết, điều đó còn tùy thuộc vào thâu cho ai.” Những câu hỏi kế đó sẽ là: xử dụng loại mic preamp gì? reverb gi?

Thật thà mà nói, tôi quả là không biết. Bản thân tôi rất thấu hiểu ban nhạc hay thân chủ của riêng tôi khi làm việc với họ trong phòng thâu. Nhưng tôi thật sự chưa rõ cần phải làm gì cho bạn nhạc của bạn trong phòng thâu.

Sau khi phóng lên mạng lưới cái Vietnamese audio blog này, tôi không hề đoán trước được có nhiều người hưởng ứng như vậy. Qua số lượng thư từ trên mạng đã nhận được, tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện ra có khá nhiều kỹ sư âm thanh tại Việt Nam. Tuy rất mừng về số lượng này, nhưng tôi hơi lo lắng khi nhận thấy đa số còn thiếu sót kiến thức căn bản. Tôi thông cảm điều này do sự thiếu tốn về nhiều mặt: tài liệu, trường đào tạo kỹ sư âm thanh, giảng sư có trình độ, hay cơ hội được học hỏi. Nhưng đừng lo, tôi sẽ cố gắng hết sức để giúp các bạn. Chúng ta sẽ cùng nhau vừa học, vừa chơi.

Tình cờ tôi coi được đọan phim ngắn này quay lại một buổi ghi âm của một trong những ban nhạc mà tôi rất thích. Nhóm “Juliette and the Licks”, dẫn đầu bởi cô diễn viên tài hoa, Juliette Lewis mà tôi rất ngưỡng mộ. Người khách được mời tham gia trong buổi ghi âm này là tay trống trứ danh của ban nhạc Nivrana, Dave Grohl, nổi tiếng đánh nặng tay.

Khi còn đi học, tôi rất thích coi những đọan phim ca nhạc quay trong phòng thâu. Tôi thích thú đến nỗi đã bỏ công đi sưu tầm và nghiên cứu từng chi tiết của mỗi đọan phim này. Một phần vì lòng đam mê âm nhạc của tôi. Nhưng phần lớn vì tôi muốn học hiểu cách các kỹ sư gia chọn lọai microphone như thế nào, đặt microphone ra sao, chỗ nào cho đúng để có thể thâu ra tiếng nghe hay và độc đáo. Dĩ nhiên, tôi biết rõ bí quyết nhà nghề không thể nào vạch ra một cách đơn giản như vậy, và chỉ coi mấy đoạn phim này không thể nào biến tôi thành chuyên gia được. Nhưng ít ra chúng gợi ý cho tôi biết phải bắt đầu từ đâu. Tôi hy vọng bạn cũng sẽ lợi dụng được điều này.

Hãy cùng nhau nghiên cứu đọan phim này. Tôi sẽ hướng dẫn các bạn từng bước một, qua kinh nghiệm của tôi, hy vọng những điều này sẽ giúp ích các bạn sau này trong phòng thâu.

Part2 of -The Licks in studio

Add to My Profile | More Videos

Phân Tích Đoạn Phim

Trống:

Như tôi đã từng nhắc nhở các bạn, muốn thâu được tiếng trống hay, trước tiên phải mời được một tay trống giỏi. Hãy coi kỹ và lắng nghe cách Dave Grohl đánh trống trong đọan video này. Bạn có để ý cái lối đánh trống chắc nịch và ngay chóc của anh ta không? Cường độ mỗi cú đánh đều ngang như nhau, ngay cả khi anh chàng nổi cơn điên. Nhưng vấn đề chính ở đây không phải là Dave, mà là việc ghi âm. Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cưu và phân tích kỹ lưỡng cách bố trí trong phòng thâu.

Hãy coi cách bố cục tổng quát của căn phòng và mấy cái microphone. Bộ microphone dùng thâu dàn trống của Dave như bao gồm là hai cái máy stereo hiệu RCA kiểu xưa, và mấy cái ribbon microphone hiệu AE. Còn hai cái microphone treo trên đầu là kiểu C12, một lọai microphone mà tôi cho là rất hiếm có và hiệu quả vô cùng tuyệt vời. Vậy bây giờ bạn có thể cho tôi biết sự quân bình trong hoàn cảnh này là ở đâu? C12 nổi tiếng truyền âm chớp nhoáng, âm thanh trong trẻo, tần số tuyệt cao, lại rất chi tiết (chưa kể là mắc khủng khiếp.) Còn loại ribbon microphone phát ra tiếng trầm ấm, chậm rãi, đầy đặn, và “uumphhhhh”. Bây giờ thì chắc bạn đã nghe ra cách phối hợp âm thanh của lọai microphone này phải không? Hai cái ribbon microphone được đặt ngang tầm ngực để thâu tiếng toms, đồng thời cũng làm diệu lại tiếng cymbals chát chúa trong lúc hòa âm. Phải, tôi có nhìn thấy mấy cái microphone riêng lẻ đặt trên mặt trống toms, kick, và snares, nhưng đây là một chuyện hoàn toàn khác, không giống như những gì bạn đang nghĩ đâu.

Bạn có để ý thấy cái microphone SM57 đặt trên cái trống snare không? Phải rồi, cái SM57 này được dán băng keo vào một cái mic khác, và tôi dám đánh cá với bạn cái mic kia chính là Neumann KM184. Tại sao lại dán hai cái mic vào nhau để làm gì? Loại mic SM57 có công năng mạnh, SPL (Sound Pressure Level) cao, và màng chắn (diaphragm) dầy. Trong khi đó, loại mic 184 tuy có màng chắn mỏng hơn, nhưng cô động và nhạy tiếng hơn, lại có tần số từ cao đến trung bình. Nói đến đây bạn đã nghĩ ra lý do tại sao lại dán hai loại mic khác nhau này vào nhau chưa? Nếu bạn chưa nghĩ ra, thì làm ơn về trường học lại đi. Nói đùa thôi. Thật ra lý do rất đơn giản: một cái mic dùng làm mồi thịt (the meat), còn cái kia dùng đễ tấn công (the attack).

Kế đến là cái trống kick. Nó được che kín lại và được gắn thêm vào một bộ phận nhìn giống như một cái ống đen dài. Tuy không thấy rõ trên màn hình, nhưng tôi chắc chắn cái trống kick này được trang bị bởi hai cái microphone, đó chính là ống dài dài đó. Trên căn bản, một cái mic được đặt bên trong, khá gần đầu trống kick, để thâu tiếng trống “attack”, hay transient. Mặt trước của đầu trống kick đã được tháo ra, và thay bằng một miếng ván dầy làm bằng một loại vật liệu dẻo, có tác dụng giữ cho tiếng trống đánh ngân (shell) dài hơn. Một cái microphone khác, tốt nhất là loại có công năng mạnh hơn, và có mặt chắn dầy hơn, được đặt ở cuối cái ống, dùng để hứng lấy âm thanh với tần số thấp. Bây giờ bạn hãy coi lại đoạn video, bạn sẽ nhận ra ngay cái ống gắn thêm trên cái trống kick.

Còn mấy cái microphone để thâu tiếng trống tom là loại AKG251, đây là một bố cục căn bản và mang lại hiệu quả khá tốt.

Cuối cùng cái room microphone treo cao trên đầu mà bạn nãy giờ cứ tưởng là cái drum mic thứ ba. Dave Grohl thường xử dụng cymbal ride để chống đỡ tiếng trống đánh xuống. Do đó một cái room microphone tụ tiếng nhỏ (condenser) được đặt phiá trên cái trống cymbal ride, để ghi lại tiếng trống “ping ping”.

Tôi đánh cá chắc chắn các bạn đã không nhận ra thêm một cái room microphone khác được đặt ngay gần hay đằng sau cái đầu của Dave, khoảng ngang tầm tai. Thử đoán xem cái bí quyết gì ở đây? Bí mật nằm ở chi tiết này: “ngang tầm tai” … Đoán ra chưa?

Guitar amps:

Trong đoạn video này, bạn có nhìn thấy hai sợi dây cable giành cho đàn guitar, được phân ra theo phương pháp “acoustic gobo”: Một kỹ thuật dàn dựng microphone đơn giản, SM57 được kê sát vào mặt sắt “the grill” Bây giờ bạn hãy chú ý đến âm thanh và vị trí của mấy cái microphones. Tiếng guitar đánh ra nghe đầy đặn và rất dữ dội, phải không? Nhìn kỹ lại coi cái mic SM57 được đặt ở đâu? Ngay kế bên cạnh cái bộ phận hình nón (the cone). Hãy nhớ lấy quy luật đơn giản này: microphone càng được đặt gần trung tâm, thì tiếng thâu ra sẽ càng sáng sủa, trong trèo; trong khi đó, microphone càng đươc đặt gần "the cone" thì tiếng thâu ra sẽ càng được dầy dặn, chắc nịch. Đây là chính là bí quyết nhà nghề.

Bạn có để ý thêm chỉ có tiếng trống được nghe rõ ràng trong phòng ghi âm live, còn tiếng guitar chỉ nghe thoang thoảng. Điều đó có nghiã là dây cable và máy amps của đàn guitar được cố tình đặt trong một căn phòng khác. Phương pháp này giúp người chơi nhạc có thể vặn tiếng guitar amps hết cỡ, đồng thời không gây ra những âm thanh quấy nhiễu đến những cái room microphone dành cho bộ trống.

Vocal:

Cô đào Juliette thâu hát qua microphone hiệu Shure SM7, loại này thường được xử dụng trong đài phát thanh. Shure SM7 có công năng khá mạnh, và màng chắn khá lớn. Loại microphone này tuy tiếng hơi thô, nhung nó có khả năng chịu được một mức độ SPL khá lớn. Khi hát, cô Juliette kề sát môi mình vào cái mic SM7 để trần, mà vẫn không bị phá tiếng. Đúng là phải có một lọai compressor nào đó gắn vào để tăng thêm cường độ một chút. Nhưng loại microphone này rất thích hợp để thâu nhạc Rock, nhất là loại nhạc Rock gào thét lớn.

Thêm vào đó, bạn có để ý cô Lewis đứng hát trong một căn phòng điều khiển có để mấy cái monitor khổng lồ, hay loa phóng thanh lọai lớn, được mở hết cỡ. Đa số các bạn chắc sẽ thắc mắc cha kỹ sư thâu thanh nào lại thâu vocal như vậy, thay vì trong một hộp thâu tiếng (vocal booth) đàng hoàng? Thật ra đây là một lối thâu âm rất phổ thông. Cách bố cục directional cho loại microphone SM7 như vậy có một hiệu quả rất tuyệt: làm cản lại âm thanh off-axis. Hơn nữa, đối với nhạc Rock thì cách sắp xếp này ít nhiều tạo ra một không khi mật thiết giữa người ca sĩ và ban nhạc, vì họ có thể trao đổi ánh mắt và quan sát được ý tứ của nhau.

Bạn có tin hay không, quả thật là 80 phần trăm phần vocal của siêu sao Madonna được thâu bằng loại microphone SM57, và được cầm trong tay cô ta, chứ không phải đặt trên một cái chân microphone nào cả. Hơn nữa cô đứng thâu trong một phòng điều khiển, có đặt mấy cái loa mở thật lớn. Làm sao tôi lại biết được những chi tiết này? Nếu tôi phải tiết lộ cho bạn nghe những bí mật này, thì tôi buộc lòng phải đem bạn đi thủ tiêu.

Lời Kết

Tôi đề nghị tốt nhất bạn hãy kiếm mua cái CD này, và tự mình thưởng thức lối biểu diễn đầy sức sống của cô đào Lewis. Tôi rất thích phương thức chế tác của CD này: sống động, ấm áp, nguyên chất, không pha chế, và với phong thái cơ bản của “rock’n roll”. Đó mới chính là cái gì gọi là làm một dĩa nhạc. Không đếm xỉa gì đến những kỹ xảo điện tử, đèn đóm hay kỹ thuật bôi xóa tào lao. Hãy đi ra bấm vào cái nút “thâu”, rồi cứ để mặc cho ban nhạc chơi.




Juliette and The Licks

Add to My Profile | More Videos

Monday, February 19, 2007

Up and personal with Nguyen Phuong Thao and Destineak


Xin bạn hãy nói sơ qua về gia đình mình. Chắc bạn đã có khiếu âm nhạc từ hồi nhỏ, phải không?

Tôi sinh ra trong một ngôi làng nhỏ gọi là “Minh Hải” tại Việt Nam. Bà ngoại tôi có một quán ăn nhỏ, còn mẹ tôi (1 trong 12 người con) dạy học trong làng. Cha tôi làm thợ cắt tóc, khiêm nhạc sĩ. Ông ấy vừa chơi đàn tây ban cầm vừa làm ca sĩ. Khi tôi chỉ mới được 2 tuổi, cha tôi vượt biên đến tỵ nạn và lập nghiệp tại Canada năm 1982, bắt đầu xây dựng một cuộc sống mới cho chúng tôi. Năm 1986, cha tôi bảo lãnh mẹ tôi, em tôi và bản thân tôi sang Canada. Lúc bấy giờ ông ấy đang làm nghề bán bảo hiểm. Gia đình tôi cuối
cùng được đoàn tụ. Nhưng chỉ một năm sau đó, trong một tai nạn xe cộ thảm khốc, cha tôi đã đột ngột qua đời. Tôi nghiệp mẹ tôi, môt người đàn bà góa bụa, đơn thân độc hành, lại phải chăm sóc cho 3 chị em tôi (lúc đó người em gái của tôi vừa mới chào đời.) Cuộc sống của chúng tôi bấy giờ rất khó khăn. Tuy chúng tôi có chú bác ở Mỹ, nhưng ai nấy cũng đều có gia đình riêng của mình để săn sóc, nên không giúp đỡ chúng tôi được gì nhiều. Những năm đầu đó, chúng tôi đành phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội của chính phủ Canada, chúng tôi vĩnh viễn ghi nhớ điều. Sau đó, mẹ tôi gặp được người cha kế của tôi, một chuyên gia trồng cây trong nhà kiếng, và họ cùng kết hôn. Tiếp đó chúng tôi bảo lãnh hai người con của cha kế tôi từ Việt Nam sang, rồi mẹ và cha kế tôi sinh thêm hai người con; tổng cộng gia đình tôi có cả thẩy 7 anh chị em.

Tôi nhớ có một lần tôi đang ở trong phòng say mê ca hát theo nhạc của Paula Abdul thì cha kế tôi từ ngòai bước vào; ông ấy hết hồn khi nhìn thấy tôi đang như bị lên cơn giựt kinh phong. Lúc đó thật là buồn cười. Sau đó lúc tôi được khoảng 12 tuổi, gia đình tôi bắt đầu đi nhà thờ Burnaby Vietnamese Alliance Church. Tôi gia nhập ca đòan trong nhà thờ, và dần dần tôi cảm thấy tự tin hơn và nghiêm túc nghĩ đến trở thành ca sĩ chuyên nghiệp.
Gia đình bạn có ủng hộ quyết định trở thành ca sĩ của bạn không? Bạn đã trải qua những trở ngại cụ thể nào?

Nhìn thấy tôi biểu diễn trong ca đòan, cả gia đình tôi đều rất xúc động và hãnh diện về tài ca hát của tôi; bất kỳ lễ lạc, hội hè, đình đám gì họ cũng kêu tôi tham gia. Tuy nhiên, lúc tôi chính thức tuyên bố dự định thi tuyển vào trường đại học âm nhạc, thì mỗi người lại hát một bè khác nhau. Nguyện vọng của họ là tôi sẽ trở thành luật sư nhờ bởi học bạ ưu tú của tôi trong suốt bao nhiêu năm. Đây là trở ngại lớn nhất mà tôi phải đương đầu để trở thành thế hệ nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tại Canada. Làm sao thuyết phục được cha mẹ tôi chấp thuận quyết định đeo đuổi ngành âm nhạc của mình. Lúc đầu họ dùng đủ mọi cách làm cho tôi nản lòng, ngay cả không chịu ký giấy cho tôi xin mượn tiền học. Rồi cứ mỗi lần có dịp cả nhà họp mặt, tôi lại bị nghe mắng là đã phụ công lao nuôi dưỡng và sự hy sinh của cha mẹ tôi để cho tôi có được một cuộc sống hạnh phúc…
Những năm đầu tiên vào đại học tôi bị khủng hỏang tinh thần. Mỗi ngày tôi có từ 6 đến 8 lớp học, về đến nhà lúc nào cũng bị nghe la mắng; tôi không tài nào tập trung học hành được. Tuy vậy tôi cũng cố gắng lấy được điểm A hầu hết mọi môn học, và nhờ đó được nhà trường ban cho nhiều tiền trợ cấp và học bỗng. Tôi cũng không nhớ làm cách nào mà tôi đạt được thành tích như vậy.

Bạn đi hát như vậy được bao lâu rồi? Bạn có thể sơ lược qua những mốc điểm chính trong suốt quá trình sự nghiệp của mình không?

Tóm tắt sự nghiệp của tôi bắt đầu từ việc hát trong ca đoàn nhà thờ, ra dĩa hát cùng với Sean Dimitrie, vào đại học, rồi hợp tác với nhiều nhà chế tác khác nhau, tiếp tục đi hát tại các câu lạc bộ để thực tập theo giáo trình, thành lập ban nhạc Destineak cùng với Bobby James/Drumatic, sáng tác vá ghi âm cho dĩa hát mới sắp sửa ra mắt vào năm 2007. Các tiến trình này xày ra dữ kiện này chồng lên dữ kiện kia.

Giọng ca của Thảo có một âm vực vô cùng phong phú, hơn nữa bạn có khả năng hát được nhiều thể loại khác nhau, gồm cà nhạc jazz và opera. Xin cho chúng tôi biết quá trình huấn luyện thanh nhạc của bạn, và tại sao bạn lại học hát nhạc opera?

Bắt đầu từ nhạc cổ điển là một phương pháp luyện giọng rất tốt. Ngoài chất giọng thiên phú, muốn hát hay phải có kỹ thuật tốt. Ngoại trừ bầm sinh có được, bạn phải tập luyện để những cơ cấu âm thanh này ăn sâu vào bản năng. Nếu không may sơ xuất thì bất cứ lúc nào bạn cũng có thể bị hát phô hay lạc giọng. Tập nhạc cổ điển giúp mình điều khiển vững vàng được giọng hát. Còn chuyện tại sao tôi đi học hát nhạc jazz, vì thể nhạc này chú trọng đến phong cách ứng biến theo ngẫu hứng; điều này rất tuyệt vời đối với việc sáng tác và biểu diễn. Thêm vào đó, tôi mê lối hòa âm của nhạc jazz, nghe mờ mờ, ảo ảo, rất thú vị. Lúc đó tôi rất may mắn là trường cao học đầu tiên tôi đăng ký vào, Douglas College, có một chương trình dạy kiến thức sọan nhạc cơ bản, giành cho những người chưa từng được huấn luyện, đồng thời cho họ vốn liếng đủ để nghiên cứu sâu thêm về âm nhạc sau này. Ngẫu nhiên nhạc cổ điển là một trong những môn được dạy trong chương trình này.
Điều gì đã khiến bạn quyết định thi vào học viện âm nhạc? Xin kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời sinh viên của bạn. Những năm tháng tại học viện có giúp ích gì cho sự nghiệp của bạn không?

Lần đầu tiên trong đời được gia nhập vào ban nhạc Shazzam, tôi may mắn được hợp tác với những nhạc sĩ giỏi nhất nhì ở Vancouver lúc bấy giờ. Bao gồm: Sean Dimitrie, người cùng sáng lập ra Bombay Records, đồng thời cũng là một nhà chế tác, viết nhạc và DJ có tên tuổi; Ray Garraway, hiện tại là tay trống trong ban nhạc K-O; ngòai ra còn có Scott Sanft, Dave Lee, Carolyn Wong và Jeff Backhouse. Lúc gia nhập vào ban nhạc năm 1997 tôi chỉ được chừng 17, còn những nhạc sĩ này đã khoảng hai mươi, ba muơi tuổi. Tất cả bọn họ đều được huấn luyện tại nhạc viện, và ai nấy đều chơi nhạc thần sầu, quỷ cốc. Điều này đã khiến tôi mong muốn cũng được đi học như họ. Hơn nữa tôi biết mình cần phải có bằng cấp đàng hoàng thì mới có cơ hội phát triển trong ngành này; tôi muốn mình không chỉ là một ca sĩ bình thường, mà là một nghệ sĩ sáng tác khiêm biễu diễn. Vào học trường nhạc là một quyết định sáng suốt nhất tôi đã làm. Qua âm nhạc, tôi được thốt lời thành thật, được tư do giao tế với nhiều người, và có thể diễn tả tư tưởng bản thân bằng một thứ ngôn ngữ phổ thông. Hơn nữa tôi được học đàn piano, một công cụ vô giá trong việc sáng tác.

Tại sao và bắt đầu từ khi nào bạn tự mình sáng tác? Sáng tác đầu tay của bạn là bài nào? Bạn thích nhất bài hát nào trong số những sáng tác của chính mình? Tại sao lại là bài hát đó?

Năm 17 tuổi, tôi bắt đầu tập tành tự sáng tác. Bài hát đầu tay của tôi có tên “Time”, sau này được hãng PFB Records thâu băng và phát hành. Bài này tôi viết về sự hàn gắn vết thương lòng sau đỗ vỡ của một cuộc tình, nhưng nhanh hay chậm chỉ là vấn đề thời gian. Bài tôi viết ưng ý nhất là bài “Release Me”, bài này nói đến lòng tham lam của con người và sự suy đồi của xã hội; sở hữu càng nhiều thì cuộc sống con người ta càng bị ràng buộc bởi cái xã hội nặng nề chủ nghĩa duy vật này.

Bạn thường viết về đề tài gì? Chủ đề nào gây cảm hứng cho bạn nhiều nhất?


Tôi thích viết về những xu hướng đương thời và những ảnh hưởng của chúng trên sự tiến hóa cảm sinh trong xã hội. Ngòai ra tôi có thiên hướng viết về những sự việc có tính giả thuyết, ví dụ như: người vô gia cư, tự do ngôn luận, lòng ganh tị, kỹ thuật hiện đại, vân vân… Có lúc tôi tòan viết về chuyện thất tình, vì bản thân tôi đã thường trải qua việc này. Nhưng hiện tại thì tôi đang sống rất hạnh phúc. Tôi cảm thấy cảm xúc của mình được cởi mở hơn để viết về những đề tài nội tâm sâu sắc hơn. Xin bạn đừng hiểu lầm, lúc nào tôi cũng thích viết về tình yêu, và những bài hát đó thường là những sáng tác khá nhất của tôi

Xin cho chúng tôi biết về dự án gần đây “Destineak” và sự hợp tác với Bobby James. Quá trình sáng tác giữa bạn và Bobby được tiến hành ra sao?

Destineak là dự án gần đây cùng với nhà chế tác Bobby James. Cái tên Destineak là do chúng tôi tự nghĩ ra, nó có nghĩa là mục tiêu duy nhất. Chúng tôi cùng làm việc suốt hai năm trời và cuối cùng cũng hoàn tất được dĩa hát này. Bobby và tôi thật ra là một cặp tình nhân, chắc các bạn cũng đoán ra được điều này gây ra nhiều ngoắt ngoéo khá thú vị. Anh ấy vài tôi cùng nhau viết bài, cùng nhau chế tác, và cùng nhau chơi đa số toàn bộ phần nhạc. Chúng tôi có mời một vài người khách biểu diễn, như là David Spidel đánh bass, Courtenay Ennis đánh keyboard, Andrew Spence thổi saxophone, và Pete Black đánh guitar. Chúng tôi lập ra một phòng studio gọi là “Song Doll Studios”, ngay tại tư gia của chúng tôi tại Vancouver.
Bạn có thể mô tả và liệt kê nhạc mình thuộc thể lọai nhạc nào? Thể loại nhạc nào bạn cảm thấy hát dễ dàng nhất? Hay thể lọai nào bạn cũng có thể biểu diễn thoải mái như nhau?

Nhạc chúng tôi viết bao gồm các yếu tố của nhạc jazz, rock, dance và electronic cùng hòa quyện vào nhau. Chúng tôi hay gọi thề nhạc này là Euro-tech-funk-rock. Có thể diễn tả nhạc chúng tôi viết khá sắn bén, và luôn mang tính chất bộc phát. Chúng tôi không muốn nhạc mình sáng tác nghe giống bất cứ nhạc của ai, nhưng vẫn luôn tìm tòi, học hỏi từ các tên tuổi truyền thuyết trong âm nhạc.

Có phải bạn đã tham gia lớp huấn luyện kịch nói (voice over acting) tại trường điện ảnh Vancouver? Vì lý do gì bạn đã tham gia lớp huấn luyện này? Xin cho chúng tôi biết về công tác của bạn tại công ty Play Management? Bạn có tham vọng trở thành một nữ diễn viên không?

Lý do chính tôi học lớp diễn xuất kịch nói (voice over acting) là phòng hờ nếu sự nghiệp ca hát của tôi gặp phải trắc trở, thì trong lúc giao thời, ít ra tôi cũng có một cái nghề tay trái có để kiếm sống. Sau đó tôi được ký với một công ty đại lý, rồi họ gửi tôi đi thử máy, thử giọng ở đài truyền hình, làm quảng cáo, và cả ở đài phát thanh. Tôi rất may mắn nhận được một số công việc rất là vui. Ví dụ như có lần tôi phải giả giọng một con chó, đúng ra là một cậu bé 12 tuổi biến thành. Lần khác tôi phải nhái giọng một bà đang cao hứng bàn cải về sàn nhà lót gỗ. Cũng có lúc tôi đóng vai dân anh chị, vai siêu nhân, vân vân ..Ngoài ra tôi cũng may mắn được ký giao kèo với hãng Pacific Artist Management, nhận được một vài chương trình làm quảng cáo, và đóng một số vai diễn nhỏ trên màn ảnh truyền hình. Việc làm này vừa vui, vừa không cần tài năng đặc biệt gì, mình chỉ cần có một diện mạo dễ coi một chút. Tuy có khả năng diễn xuất, hiện tại tôi chỉ muốn diễn những vai nhẹ thôi. Bởi vì nếu muốn đạt đến những vai trò nghiêm túc hơn, tôi cần phải bỏ ra nhiều thì giờ và công sức đễ tập dợt; nếu có thời gian tôi dùng hết vào việc sáng tác nhạc. Hy vọng trong tương lai tôi sẽ có cơ hội này.

Bạn đã từng làm việc với nhiều nhà chế tác khác nhau. Theo kinh nghiệm cá nhân, bạn nghĩ một nhà chế tác giỏi cần phải có những ưu điểm gì? Trong toàn bộ quá trình chế tác, bạn thấy bộ phận nào quan trọng nhất? Recording? Mixing và mastering? Hay là post-production?

Theo tôi, một nhà chế tác tốt cần phải thấu hiểu, và yêu thích nhạc của bạn. Nếu phải làm việc với một người không thấu hiểu mà cũng không yêu thích âm nhạc của mình là tự đào huyệt chôn chính bản thân, bởi vì cả hai không ai sẽ được thể hiện phong cách cá nhân một cách đúng đắn. Riêng bản thân tôi được may mắn hợp tác với những nhà chế tác có phòng thâu riêng, do đó họ rất thông thạo về máy móc và dụng cụ ghi âm. Tôi đã từng làm việc với nhiều nhà chế tác rất cố chấp về phương diện bài bản, và không đón nhận những ý kiến sáng tạo của người khác. Làm việc bị gò bó như vậy thật không vui chút nào. Theo tôi, trong suốt tiến trình chế tác một dĩa nhạc, phần quan trọng nhất gồm có: 1) Quá trình viết nhạc: không có một bài hát hay thì bạn sẽ không nhận định được phương hướng sẽ thâu thanh ra sao; 2) Phần hòa âm: thâu âm hay đôi lúc cũng có những đoạn khó xử lý, hay diễn đạt không ưng ý lắm; những điều đó còn có thể chấp nhận được; nhưng nếu hòa âm dở thì không ai thèm nghe, thậm chí không thèm phát lại)

Là một nữ nhac sĩ Á Đông, làm cách nào bạn xoay xở để sinh tồn và đạt đến những thành tựu như ngày hôm nay trong lĩnh vực âm nhạc tại phương Tây? Ngoài giọng hát thiên phú, bạn có vũ khí bí mật gì?

Làm một nhạc sĩ Viêt Nam tại Canada không dễ dàng, vì con nít bên này ngay từ nhỏ đã bị tiêm nhiễm cái ý niệm: thành công trong âm nhạc đi đôi với tiền bạc và danh tiếng. Nhìn vào thị trường âm nhạc Pop tại Bắc Mỹ, không có một siêu sao Á Đông nào để tôi noi gương. Hơn nữa ngoài áp lực mong được nổi bật, tôi còn phải đương đầu với một khuôn khổ mà bất lâu nay chưa ai thoát ra khỏi, chứ đừng nói chi đến đạt được kỳ công gì. Điều này có một thời làm tôi rất khó chịu, cho đến khi tôi nhận thức được những tiền nhân mà tôi theo gương đa số không phải là những nhân vật thường xuyên xuất hiện trên đài truyền hình, hay đài phát thanh. Những tên tuổi có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp âm nhạc của tôi gồm có: BT, Garbage, Bjork, Gaelle và Imogen Heap. Tên tuổi đồ sộ của họ có được nhờ vảo những sáng tác và chế tác vĩ đại cùa họ, chứ không phải vi họ trở thành con bù nhìn hay hình tượng cho đám trẻ bu theo bắt chước màu tóc hay kiểu cọ thời trang này nọ. Nói như vậy không có nghĩa tôi mong làm một nghệ sĩ không ai biết đến; ai mà không muốn được làm minh tinh nổi bật và giàu có?

Giờ đây tôi lĩnh ngộ ra rằng cho tôi có được năng khiếu và cơ hội chơi âm nhạc tôi đã may mắn lắm rồi, còn việc thành công hay thất bại chỉ là vấn đề bản thân tự đánh giá về những thành tựu của chính mình mà thôi. Hiển nhiên trong cuộc đời nghệ sĩ, tôi cũng mơ ước cũng cố được một số khán thính giả ái mộ riêng của mình. Tuy nhiên nồi tiếng theo kiểu cô nàng Britney Spears thì tôi thật không ham đâu. Còn nếu ai vào nghề này ôm mộng làm giầu thì tôi khuyên người đó hãy nhảy ra ngay, đi kiếm một nghề khác. Nếu muốn làm giầu tại sao không đi học đầu tư, làm ngân hàng, vào ngành địa ốc gì đó; thế giới âm nhạc bớt một người như vậy cũng không thiếu đâu. Còn nếu bạn cũng như tôi; ăn ngủ, hô hấp, đi đứng, làm gì cũng nghĩ đến âm nhạc; và không thể tưởng tượng một ngày không được đàn hát, vậy thì may ra bạn sẽ có cơ hội cảm nhận được cái hạnh phúc làm người nhạc sĩ. Tôi nghĩ vũ khí bí mật của tôi chính là ở chỗ tôi lĩnh ngộ được điều này: âm nhạc đã chấm trúng tôi thì tôi nên biết quý trọng tao ngộ này, vui vẻ mà sống dù giầu sang hay nghèo khó.

Dân ái mộ cuồng nhiệt đã từng làm ra những trò điên đảo gì với bạn không? Bạn thích gì nhất và ghét cái gì nhất về những buổi trình diễn nhạc sống?

Tôi không nhớ đã từng có lúc khán giả ái mộ làm ra những trò điên cuồng gì. Nhưng thú thật những lúc khán giả đến xin bút ký hay hỏi tôi ký tên lên CD của họ, tôi cảm thấy rất vô cùng hân hạnh. Thật không thể ngờ được có người mong muốn được gần gũi tôi vì âm nhạc của tôi. Đối với tôi chỉ điều này thôi cũng đủ quá sung sướng rồi.

Cái mà tôi yêu thích được trình diễn nhạc sống là có dịp cởi mở tâm hồn mình và đón nhận thế giới vào lòng. Trên sân khấu tôi chìm đắm trong âm nhạc và khán giả cũng say mê cùng tôi. Cảm giác này thật là sảng khóai. Nhưng điều mỉa mai là cái mà tôi thích cũng là cái mà tôi ghét. Mở lòng mình ra là một việc khá căng thẳng về mặt tâm linh, và hậu quả có thể gây tổn thương it nhiều. Đang được làm trung tâm của vũ trụ, mà phải quay trở về cuộc sống bình thường là một điều không dễ dàng. Tôi và một người bạn gái, một nữ diễn viên kịch sống, thường thầm nói đùa với nhau về đề tài này. Chúng tôi gọi hiện tượng này là “anti-climatic-performer-syndrome”. Triệu chứng bao gồm bị trầm uất nhẹ, và luôn nài nĩ đòi được trở lên sân khấu để biểu diễn lại từ đầu. Có lẽ đây là lý do tại sao nhạc sĩ cần phải đi biểu diễn hòai, giống như bị say thuốc vậy.

Trong vòng 5 năm tới đây bạn nghĩ mình sẽ đạt được những thành tựu gì trong nghề nghiệp biểu diễn giải trí này?

Trong vào 5 năm, tôi mong chúng tôi bán được nhiều dĩa hát và ban nhạc Destineak của chúng tôi gây được nhiều sự chú ý, đủ để chúng tôi có thể huy động được một chuyến lưu diễn khắp thế giới. Rồi sau khi đi lưu diễn trở về, tôi sẵn sàng sinh đứa con đầu lòng vào năm 31 tuổi. và xây dựng một mái ấm gia đình. Rồi tôi sẽ khởi sự thâu một dĩa nhạc nữa. Tôi cũng có hứng thú đến chuyện làm nhà chế tác, và đồng thời viết nhạc cho những nghệ sĩ khác.

Rời Việt Nam lúc mới chỉ được 6 tuổi, bạn có ký ức gì về quê nhà không? Về cả hai mặt văn hóa và âm nhạc, bạn đã từng tham gia họat động trong cộng đồng người Việt ở Canada hay ở bất cứ nơi đâu không? Nếu trong tương lai có cơ hội tốt, bạn có hứng thú đến việc này không?

Rời Việt Nam lúc mới chỉ được 6 tuổi, tôi thật không nhớ được gì nhiều. Tôi chỉ mang máng nhớ một vài chi tiết nho nhỏ như cùng em tôi đi lượm củi về cho bà ngoại nấu cơm, cô giáo tiểu học của tôi có mái tóc thật dài, còn gia đình tôi cư trú trên một căn hộ ở tầng hai lúc dọn vào trong Sài Gòn. Bốn năm trước, tôi có trở về thăm Việt Nam, cảm giác hoàn toàn lạ lùng. Tôi không thể nào tin được khắp nơi dân chúng vẫn còn sống rất nghèo đói, khốn khổ, và cùng cực; ngay cả trong thành thị! Nơi duy nhất mà người dân có thể giao lưu qua lại chính là nhà thờ, một hổ trợ tinh thần khá mạnh. Lúc trẻ tôi đã từng dạy trẻ nhỏ trong lớp ngày chủ nhật và hát trong ca đoàn tại nhà thờ. Cho nên tôi nghĩ nếu có dịp tôi mong muốn được hoạt động tích cực hơn trong cộng đồng người Việt. Và chính nhờ qua Bflat, tôi đã bước được bước đầu tiên.

Thank you Christina Sing for taking your valuable time to talk with us and for opening your heart to our blog viewers. We wish you best of luck in your career, music, love and family.

The last words from Duy,
It was such a thrill for me to witness this new wave of very talent Vietnamese female song writers coming out of 'Viet Kieu' lands such as Christina, Carol, Amy, Thao, Ngoc, etc. To me, it does not really matter where they come from, Vietnam or oversea, we're all Vietnamese and it is all about the music. These ladies showed us how things are done right and took control of their career down to every single note in their songs. What impressed me the most is that like no others, Christina does not claim or fake who she is. I heard it all, Vietnamese singers who could not make up their own mind of who to please by claiming R&B, Soul, Electronic, even Ambience (in engineering world, ambience = elevator music, shoping mall tune, and senior home PA softcores) on a whim, thinking most of us are clueless. Christina's music blew me away by...just being herself, a real artist, producer, song writer, without all the phony press campaign. My hat is off to you Christina, Carol, Ngoc, Amy, Thao...and many other to comes. Please show us the light.

For more info on Christina Phuong Thao Nguyen and Destineak please visit http://www.christinasing.com/destineak/index.html
http://www.christinasing.com/christinanew/index.html

Tự ghi tâm tại gia


Bạn bè của tôi đa số là người biểu diễn hay sáng tác nhạc. Họ thường hỏi tôi nên mua nhũng dụng cụ gì. Thông thường tôi đề nghị họ chỉ cần mua một cái microphone rẻ tiền SM57, một cái máy cassette có 4 track, một cái máy ghi âm có nhiều track, và một cái máy mixer Mackie lọai rẻ tiền…Rẻ tiền phải không! Đừng bao giờ mua máy ghi âm di tính (computer-based recorder), hay DAW (Digital Audio Workstation). Thật ra đây là một giao dịch buôn bán không có lợi ích gì đối với tôi, với tư cách là một nhà buôn đại diện cho các hãng sản xuất dụng cụ ghi âm nhà nghề nổi tiếng như: Manley, Cransong, API, vân vân …

Tôi đã chứng kiến không ít nhiều vụ phòng thâu tại gia đã làm tiêu tùng sự nghiệp của nhiều người. Nếu một người sáng tác, kiêm biểu diễn bố trí một phòng thâu làm cảnh trong nhà, mà vẫn có thể tiếp tục được sự nghiệp của mình thì điều đó là một ngọai lệ, chứ không phải là luật lệ. Tôi thường thấy nhiều nghệ sĩ đã rơi vào tình trạng này, ngay cả chính bản thân mình. Tôi nhớ lại khi tôi khởi sự dàn dựng một phòng ghi âm đầu tiên của tôi tại nhà vào cuối thập niên 90, cũng là lúc sự nghiệp sáng tác và biểu diễn của tôi kết thúc. Cũng may là tôi đã đổi nghề và chọn làm nhà chế tác và kỹ sư, một sự nghiệp rất thích hợp với tôi, khá hơn làm người biểu diễn. Tuy nhiên mọi việc kết thúc không được xuông xẻ chút nào. Từ khi có phòng ghi âm ở nhà rồi thì tôi không hòan tất sáng tác xong bản nhạc nào cả.

Một lần nữa: Gỉa thử có hai người sáng tác kiêm biểu diễn, cả hai đều rất tài ba, và làm việc rất siêng năng. Một người thì chỉ xử dụng một dàn máy cassette 4 tracks, người kia thì có cả một hệ thống ghi âm DAW. Qua một năm thử hỏi họ đã làm được gì với hệ thống ghi âm mà họ đã chọn? Tôi không hề nói cuộc đời của anh chàng với hệ thống thâu âm DAW sẽ trở thành tồi tệ, nhưng sự thật phũ phàng là thời gian anh ta vật lộn với dàn máy thâu âm đã chiếm hết thời gian viết nhạc và biểu diễn của anh ta. Hai lý do lớn nhất mà sự nghiệp sang tác của anh chàng này bi tiêu đời là:

Một là thời gian và tiền bạc đã đổ hết vào phòng thu. Do đó thay vì xử dụng số tiền này để chi phí cho các tour trình diễn, trả tiền quảng cáo, mua dụng cụ biểu diễn live, hay tu sửa chiếc xe hàng để chạy show; thì số tiền này lại bi quẳng hết vào plug-ins. Hơn nữa thay vì dùng thời gian để viết nhạc, tập dợt với ban nhạc, đi trình diễn, chạy shows, thì họ cứ ngồi ỳ ở nhà, ôm lấy dàn máy MOTU, DIGI 002 hay Logic Audio gì đó, cố gắng để tìm hiểu làm sao cho các hệ thống này tiếp cận và giao liên với nhau; rồi thì từ tuần này sang tuần nọ họ ngồi trong phòng thu cũng chỉ để chỉnh lý tiếng trống tambourine!

Hai là, đám người có phòng thâu tại gia như vậy thường ngồi ỳ trong nhà chơi với dàn máy thay vì đối diện với thế giới thật sự bên ngoài, thử thời vận bằng cách chơi nhạc hay trình diễn với nhiều người khác nhau, may ra họ có nhiều cơ hội hơn. Trong nghề ca hát này, cơ hội thường có mặt qua việc gặp gỡ, giao tiếp với người trong nghề nhiều hơn là qua một kiệt tác từ một phòng thâu tại gia. Điều này bao gồm cả gặp mặt các nhà chế tác, hay kỹ sư chỉ đang ngồi tán dóc hay đang suy nghĩ tới đề án mới, mà một trong nhũng đề án đó có thể thích hợp với bạn.

Một trong những điều tôi thường cố khuyên mọi người nên làm là mời người này, người nọ đến phòng thu để thử vì hiệu quả có thể không lường trước được. Đừng chỉ nhốt chính mình trong phòng ghi âm. Giao thiệp trong nghề tốt rất quan trọng Ngoài việc đem lại ý kiến và cái nhìn mới mẻ trong công tác, họ cũng dạy cho bạn biết thêm nhiều kiến thức qúy báu, ví dụ như chỉ cho bạn những mách khóe nhà nghề mà họ đã học từ những kỹ sư khác. Nhiều dịp tôi đã kinh ngạc khi nhìn thấy sự góp mặt của một người nhạc sĩ, dù chỉ là khách tình cờ đến thăm phòng thu, đã biến chuyển một bản nhạc hay không thể ngờ được.

Tuy việc gì cũng có ngọai lệ, nhưng nói cho cùng cũng chỉ là ngọai lệ. Nếu bạn thuộc lọai người chỉ thích đam mê làm việc trong phòng thu và không có tham vọng trở thành một nghệ sĩ biều diễn thì bạn không cần đếm xỉa đến những quy luật này. Nhưng nếu thử nhìn từ một góc cạnh khác, bạn có dám đánh cá với tôi xem giữa hai người nghệ sĩ này, ai sẽ là người thành công trong sự nghiệp: một người mất hết cả năm trời để dàn dựng một phòng thu; người kia thì chỉ bò ra hai tuần lễ ghi âm cùng với môt nhà chế tác giỏi trong một phòng thu trung bình, và 50 tuần lễ còn lại trong năm thì đi trình diễn khắp nơi để quảng bá dĩa hát mới. Bạn sẽ chọn đánh cá bên nào thắng nào?

Rõ ràng phần lớn chúng ta thích được thu âm. Nếu không thì chúng ta làm gì bỏ nhiều thì giờ và công sức lên mạng để đọc, trao đổi, tìm tòi và học hỏi về kỹ thuật thu âm. Mày mò thu âm tại nhà cũng có cái thú vui riêng, thậm chí đối với hàng tá người đã trở thành một lạc thú đam mê, và chẳng bao lâu họ quên lãng cái mục tiêu trở thành nghệ sĩ. Cũng vì lý do này nhiều bài hát hay đã không bao giờ được sáng tác.

Sunday, February 18, 2007

New Studio

Using the SIM 3 system and MAPP online from MeyerSound.com, I had decide to redesign my studio. Audio friends are all interest in how I will change my set up at home for project studio. I will start off day one and report with pictures to the progress of my new set up.

Tuesday, February 06, 2007

Vocal using a "Fostex", are you crazy?


UHMMM! Things happen when the studio door is closed from public eyes.

Fostex makes Microphone? You better believe it, actually it is the most hidden vintage Mic and great on bass amp and vocal. Especially the vocal!
“The Fostex M11RP microphone is truly a different breed than any other microphone currently available. Fostex was awarded 20 international patents on this unique transducer technology. These special edition microphones are hand-built and available in limited quantities,” according to Fostex Professional Products Director Rick Cannata.
“No phantom power is required and there is no on-board circuitry to create noise,” Mr. Cannata said. “These microphones have the durability of a dynamic element, the clarity of a condenser capsule and the warmth of a ribbon design.” Extremely low distortion is rated at less than 0.2 per cent at 130 dB. Immediate advantages over normal ribbon technology are strength and durability. Ribbon microphones are noted for the fragility of their elements, thereby negating their use for outside applications or high sound pressure level microphone placements. The M11 microphone can endure close percussion or loud amplifier microphone placements (you know, rock singer, bass amp, kick drums...shit like that!) without danger to the capsule.
An additional benefit of the Fostex Printed Ribbon technology is the clarity and sheen of a high-quality condenser microphone, without the need for phantom power. This fact results in an extremely low noise floor due to the elimination of the condenser’s electronic circuitry, which would normally be required.
In the Fostex design, the M11 microphone has a large, low-mass printed ribbon diaphragm, which offers very fast response time, compared with typical heavy dynamic mic capsules. “The resulting smooth upper high end attributed to this ribbon technology can warm up any digital production while maintaining pristine clarity and presence,” Cannata said.

I did used this for making some dude sound more "manly" (pay attention LH) or thicken and warm up a thin digital recorded vocal.



This one belong to me!

Sunday, January 28, 2007

Friday, January 26, 2007

NAMM Part 2...guitar and more guitar!



Well, I am not a guitar player but I love to look at guitar. There were ton of guitar at the NaMM show and I am showing the pictures.
A few things which got my attention was the Marshal MINI stack, which can fit nicely into your lap and scream almost just as loud and mean as the big one. Then there were Eventide which came out with its first set of guitar pedal, very nice. Boss also release its new pedals with Dynamic???? Well it is like this, for Boss Metal Core pedal, if you strum your guitar lightly, you get a nice clean sound but the harder you play, the more distortion and meaner you get from the Boss, good idea.



Check out the Marshal MINI Stack bottom left!


John Taylor of Duran Duran
Tascam has announced the GA-30CD guitar amplifier. They tell us that this 30W guitar amp uses solid-state technology for guitar tone without the latency delay of digital modeling amps. A multi-effects processor is also provided for delay, chorus, phasing and more. Along with being a flexible guitar amp, the GA-30CD has a built-in CD trainer with its own stereo sound system for playing CDs at virtually any speed and pitch without compromising the amp tone.